Hơn nửa triệu trẻ em Việt Nam phải làm việc trong điều kiện độc hại, nguy hiểm

69 lượt xem

Có khoảng 5,3% trẻ em và người chưa thành niên tại Việt Nam là lao động trẻ em (LĐTE). Con số này tương đương với hơn 1 triệu trẻ em, trong đó hơn một nửa phải làm việc trong điều kiện nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.
 

Việt Nam có gần 520.000 lao động trẻ em đang làm các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm /// Ảnh Lưu Quang Phổ

Việt Nam có gần 520.000 lao động trẻ em đang làm các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm – Ảnh Lưu Quang Phổ

Việt Nam có gần 520.000 lao động trẻ em đang làm các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm

Ảnh Lưu Quang Phổ
Đây là kết quả Điều tra quốc gia về LĐTE lần thứ 2 của Việt Nam được Bộ LĐ-TB-XH và Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) công bố sáng nay, 18.12.

Hơn 1 triệu lao động trẻ em tại Việt Nam 

Cuộc điều tra được thực hiện vào năm 2018, do Bộ LĐ-TB-XH phối hợp với Tổng cục Thống kê thực hiện với sự hỗ trợ kỹ thuật của ILO, cho thấy có hơn 1,7 triệu trẻ em tham gia các hoạt động kinh tế tại Việt Nam.
Trong đó, có khoảng 5,3% trẻ em và người chưa thành niên trong độ tuổi từ 5 đến 17 là LĐTE. Con số này tương đương với hơn 1 triệu trẻ em (chiếm 58,8%) là LĐTE. Các em phải làm các công việc trái pháp luật so với độ tuổi, hay quá số giờ các em được phép làm hoặc do tính chất công việc các em phải thực hiện.
LĐTE bao gồm các công việc gây tổn hại đến thể chất, tinh thần của trẻ, cản trở việc học hành và có tác động tiêu cực đến sự phát triển của trẻ.
Đáng chú ý, cuộc điều tra cho thấy, có gần 520.000 LĐTE tại Việt Nam làm các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Đây là những công việc có những nguy cơ gây tổn hại đến sức khỏe, sự an toàn và đạo đức của trẻ. LĐTE làm các công việc độc hại thường xuất hiện trong khu vực công nghiệp và xây dựng, tỷ lệ LĐTE làm các công việc độc hại trong khu vực nông nghiệp thấp hơn. Số giờ làm việc của LĐTE làm các công việc nặng nhọc độc hại nguy hiểm có xu hướng cao, với 40,6% trẻ trong nhóm này phải làm việc nhiều hơn 40 giờ/ 1 tuần.
Ngoài những nguy cơ về sức khỏe và sự an toàn của trẻ, cuộc điều tra đã nhấn mạnh những tác động tiêu cực của việc tham gia các hoạt động kinh tế đến việc đi học của trẻ. Khi mức độ tham gia các hoạt động kinh tế của các em càng tăng thì tỷ lệ trẻ được đến trường càng giảm. So sánh với tỷ lệ đi học bình quân trên toàn quốc là 94,4% thì chỉ có một nửa số LĐTE được đi học, con số này trong nhóm LĐTE làm các công việc nặng nhọc độc hại nguy hiểm còn thấp hơn, chỉ có 38,6%.
Tuy nhiên, quả của cuộc điều tra cho thấy những tín hiệu tiến triển tích cực từ năm 2012 đến năm 2018. Trong tổng số trẻ em tham gia hoạt động kinh tế thì có 63% được đến trường, so với con số này năm 2012 là 43,6%. Bà Nguyễn Thị Hà, Thứ trưởng Bộ LĐ-TB-XH, cho biết: “So sánh với kết quả Điều tra quốc gia về LĐTE lần thứ nhất được thực hiện vào năm 2012, số liệu gần đây cho thấy tỷ lệ trẻ em tham gia làm việc đã giảm đi đáng kể, từ 15,5% năm 2012 xuống còn 9,1% năm 2018”.
Còn theo ILO, tỷ lệ LĐTE tại Việt Nam thấp hơn khoảng 2% so với tỷ lệ trung bình của khu vực châu Á và Thái Bình Dương.
Theo ILO, đồng nhất với xu hướng chung của toàn cầu, 84% LĐTE tại Việt Nam tập trung ở vùng nông thôn và hơn một nửa số đó làm việc trong khu vực nông, lâm, ngư nghiệp. Những khu vực khác có nhiều LĐTE bao gồm dịch vụ, công nghiệp và xây dựng. Khoảng 40,5% LĐTE là các lao động trong hộ gia đình không được trả lương.
“LĐTE thường tồn tại ở các hộ kinh doanh cá thể, không chính thức, thuộc các chuỗi cung ứng nên rất khó phát hiện. Việc Việt Nam tham gia ngày càng sâu rộng vào thương mại toàn cầu đòi hỏi các doanh nghiệp của Việt Nam phải đảm bảo các chuỗi cung ứng của mình không sử dụng LĐTE để hội nhập thị trường toàn cầu”, TS Chang Hee Lee, Giám đốc ILO Việt Nam giải thích.

Nguy cơ lao động trẻ em gia tăng sau đại dịch Covid-19

Mặc dù tỷ lệ LĐTE tại VN đã giảm, song ILO cho rằng, LĐTE hiện vẫn tiềm ẩn nguy cơ gia tăng do những tác động của đại dịch Covid-19 đến kinh tế – xã hội.
Hiện nay, ở Việt Nam và trên thế giới, nhiều gia đình buộc phải sử dụng LĐTE như một phương sách để đối phó với tình trạng giảm thu nhập và sinh kế do sự gián đoạn của chuỗi cung ứng toàn cầu và các biện pháp giãn cách xã hội.
Đồng thời, do hậu quả tàn phá của các trận lũ lụt ở miền Trung gần đây, nguy cơ các gia đình bị ảnh hưởng phải đối mặt với gánh nặng kép của cả đại dịch lẫn thảm họa thiên nhiên.
Ông Chang Hee Lee khuyến nghị, Việt Nam cần sớm có những hành động để giảm tổn hại của đại dịch và các thảm họa thiên nhiên đang đe dọa những thành tựu đã đạt được trong công cuộc phòng ngừa, giảm thiểu LĐTE và dẫn tới nguy cơ gia tăng số lượng các trường hợp LĐTE. Những nỗ lực quốc gia nhằm thực hiện Mục tiêu Phát triển bền vững (SDG) 8.7 về xóa bỏ LĐTE dưới mọi hình thức cần sớm được thực hiện.
Năm 2021 là Năm quốc tế về xóa bỏ lao động trẻ em
Để nhấn mạnh nhu cầu cấp thiết thúc đẩy những nỗ lực xóa bỏ LĐTE, khẩn cấp hơn bao giờ hết, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã chọn năm 2021 là Năm Quốc tế về Xóa bỏ LĐTE. Để có thể vượt qua những thách thức và thực hiện vai trò là quốc gia tiên phong, Chính phủ Việt Nam đã và đang xây dựng lộ trình thực hiện Mục tiêu Phát triển bền vững (SDG) 8.7 và Chương trình phòng ngừa, giảm thiểu LĐTE giai đoạn 2021 – 2030.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

%d bloggers like this: